Bước vào giai đoạn cuối năm 2026, bức tranh kinh tế – xã hội Việt Nam chứng kiến những bước phục hồi và bứt phá mạnh mẽ. Sau các nỗ lực tái cơ cấu, đẩy mạnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, thị trường lao động trong nước 6 tháng đầu năm 2026 không chỉ ghi nhận những con số tăng trưởng tích cực về quy mô, thu nhập mà còn phản ánh sự thay đổi sâu sắc về mặt chất lượng.
TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 6 THÁNG NĂM 2026 QUA NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI
Dựa trên Báo cáo tình hình lao động, việc làm 6 tháng năm 2026 của Cục thống kê, thị trường lao động Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực với quy mô lực lượng lao động mở rộng, thu nhập của người làm công hưởng lương cải thiện rõ rệt và các chỉ số thất nghiệp được kiểm soát chặt chẽ.
- Quy mô lực lượng lao động: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đạt 53,7 triệu người (tăng hơn 690,7 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68,4%, tiếp tục khẳng định dư địa nguồn cung lao động dồi dào cho phát triển kinh tế.
- Số người có việc làm: Tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế đạt 52,6 triệu người (tăng 672,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước). Theo khu vực địa lý: Lao động có việc làm ở khu vực thành thị đạt khoảng 20,7 triệu người; khu vực nông thôn đạt 32 triệu người.
- Thu nhập bình quân của người lao động: Đạt mốc 9,0 triệu đồng/tháng, ghi nhận mức tăng trưởng 8,5% so với cùng kỳ năm 2025. Phân theo khu vực: Thu nhập bình quân tại khu vực thành thị đạt 10,6 triệu đồng/tháng; khu vực nông thôn đạt 7,9 triệu đồng/tháng. Phân theo giới tính: Thu nhập bình quân của lao động nam đạt 10,1 triệu đồng/tháng, lao động nữ đạt 7,8 triệu đồng.
- Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động cả nước tiếp tục duy trì ở mức thấp, khoảng 2,22%. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giữ ở mức 2,47%, khu vực nông thôn là 2,05%

5 DỊCH CHUYỂN BẢN LỀ ĐỊNH HÌNH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 2026
1. Dịch chuyển Cơ cấu Ngành kinh tế: Nông nghiệp tiếp tục thu hẹp, Dịch vụ giữ vai trò đầu tàu
Điểm nổi bật của thị trường lao động hiện nay là xu hướng dịch chuyển ngày càng rõ nét từ các khu vực có năng suất lao động thấp sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn. Theo Tạp chí Kinh tế – Tài chính, phân bổ lao động theo 3 khu vực kinh tế trong Quý II năm 2026:
- Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản: Tỷ trọng lao động tiếp tục xu hướng giảm dài hạn, chỉ còn chiếm 25,2% tổng số lao động có việc làm. Quá trình cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp đã giải phóng nguồn nhân lực chuyển sang các ngành phi nông nghiệp.
- Khu vực Công nghiệp và Xây dựng: Chiếm 33,9% tổng lực lượng lao động. Cơ cấu nội ngành có sự dịch chuyển mạnh từ các ngành gia công truyền thống sang nhóm ngành chế biến, chế tạo công nghệ cao và sản xuất thiết bị điện tử.
- Khu vực Dịch vụ: Tiếp tục vươn lên trở thành khu vực thu hút lao động lớn nhất, chiếm 40,9% tổng số lao động có việc làm. Các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao như bán buôn – bán lẻ, vận tải logistics, công nghệ thông tin và tài chính – ngân hàng là động lực chính tạo việc làm mới.
2.Dịch chuyển Chất lượng Nguồn nhân lực: “Cơn khát” Lao động Kỹ thuật và Bán dẫn
- Sự lệch pha Cung – Cầu: Lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 33,3%, trong khi lao động chưa qua đào tạo chiếm 31,2%. Hai nhóm này chiếm tới 64,5% tổng nguồn cung lao động trên thị trường. Trong khi đó, lao động kỹ thuật trình độ trung cấp và cao đẳng – nhóm được nhiều doanh nghiệp săn đón – lại đang thiếu hụt (Theo Cổng thông tin việc làm thành phố Hà Nội).
- Sự bùng nổ của các ngành nghề mới: Nhờ dòng vốn FDI thế hệ mới chảy mạnh vào Việt Nam, các ngành công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ xanh đang rơi vào tình trạng “khát” nhân sự trầm trọng.
3. Dịch chuyển không gian lao động: Xu hướng Giảm áp lực cho Đô thị Đặc biệt
- Mức độ tập trung lao động di cư tự do vào hai đô thị lớn (Hà Nội, TP.HCM) có dấu hiệu hạ nhiệt.
- Dòng dịch chuyển lao động có xu hướng lan tỏa mạnh về các vùng kinh tế trọng điểm mới như Vùng Đồng bằng sông Hồng mở rộng (Bắc Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh) và Vùng Đông Nam Bộ (Bình Dương, Đồng Nai). Sự phát triển của các khu công nghiệp vệ tinh đã giúp tạo việc làm tại chỗ, giữ chân lực lượng lao động địa phương.
4. Dịch chuyển Khu vực Việc làm: Chính thức hóa Lao động & phát triển nền kinh tế tự do
- Chính thức hóa việc làm: Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức (không có hợp đồng lao động, không tham gia BHXH bắt buộc) có xu hướng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước nhờ các nỗ lực mở rộng bao phủ bảo hiểm và chuẩn hóa quản lý lao động.
- Hình thức việc làm linh hoạt: xu hướng số hóa mạnh mẽ trong các ngành kinh tế kéo theo sự phát triển việc làm tự do trong nền kinh tế tự do (Gig). Mô hình Gig đang lan tỏa ngày càng mạnh mẽ khắp các tỉnh, thành, địa phương tại Việt Nam với các hình thức việc làm đa dạng như: lái xe/giao hàng công nghệ, giúp việc gia đình, bán hàng online, freelancers, lập trình viên, youtuber, bloggers, v.v… Các nền tảng lao động số đang tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt là cho các nhóm lao động yếu thế trong thị trường lao động truyền thống gồm phụ nữ, người khuyết tật, người di cư, người thất nghiệp trong thị trường lao động truyền thống,…

5. Dịch chuyển Tiêu chuẩn Lao động: Thu nhập đi kèm Trải nghiệm và Năng suất
Tăng trưởng thu nhập trung bình đạt 8,5% (so với cùng kỳ năm trước theo Cục thống kê) phản ánh năng suất lao động và yêu cầu tiêu chuẩn làm việc gia tăng:
- Doanh nghiệp gia tăng áp lực tuyển dụng nhân sự có khả năng vận hành công cụ hiện đại và trí tuệ nhân tạo (AI) để tối ưu năng suất.
- Ở chiều ngược lại, tiêu chuẩn của người lao động đối với môi trường làm việc không chỉ dừng lại ở mức lương cơ bản mà còn gắn liền với tính minh bạch, chế độ đãi ngộ toàn diện và cơ hội đào tạo lại (Reskilling/Upskilling).
DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP TỔNG THỂ CHO NĂM 2026 – 2027
Thị trường lao động 6 tháng đầu năm 2026 vẽ ra bức tranh của một nền kinh tế có khả năng thích ứng tương đối tốt trước biến động. Nhưng để những chuyển động hiện nay không chỉ dừng ở sự điều chỉnh ngắn hạn mà trở thành nền tảng cho tăng trưởng bền vững, sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động sẽ giữ vai trò then chốt.
- Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo: Đẩy mạnh kết nối giữa hệ thống giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động để nâng tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ vượt mốc 28,5%, tập trung vào các ngành công nghệ, chế biến chế tạo và dịch vụ chất lượng cao.
- Quy hoạch thị trường lao động theo vùng: Tiếp tục hoàn thiện chính sách hạ tầng và an sinh xã hội tại các tỉnh vệ tinh để thu hút và giữ chân lao động, giảm tải áp lực hạ tầng cho các vùng đô thị lớn.
- Hoàn thiện lưới an sinh cho lao động phi chính thức: Xây dựng cơ chế quản lý linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi và mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội cho nhóm lao động làm việc trên nền tảng số và lao động tự do.
- Đối với Doanh nghiệp & Người lao động: Doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi mô hình quản trị, đầu tư đào tạo nâng cao kỹ năng cho nhân sự; người lao động cần chủ động trang bị kỹ năng số và tư duy học tập suốt đời để thích ứng với sự thay đổi của cấu trúc ngành nghề.
Thị trường lao động Việt Nam 6 tháng năm 2026 đang trải qua giai đoạn chuyển mình lịch sử. Những số liệu tăng trưởng về thu nhập và số lượng việc làm là tín hiệu vui, nhưng sự chuyển dịch về mặt chất lượng – từ kỹ năng, ngành nghề đến tư duy quản trị – mới là động lực cốt lõi đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện đại và bền vững.
